google-site-verification=UUyX9etziW5VvF-yD44uBQdTGifLZ1mK4WwEJzKhUWk
(Áp dụng từ ngày 01/01/2026, thay thế Thông tư 200)
Nợ phải trả của doanh nghiệp bao gồm các khoản như: phải trả người bán; phải trả cổ tức, lợi nhuận; thuế và các khoản phải nộp Nhà nước; phải trả người lao động; chi phí phải trả; phải trả nội bộ; các khoản phải trả, phải nộp khác; vay và nợ thuê tài chính; trái phiếu phát hành; nhận ký quỹ, ký cược; thuế thu nhập hoãn lại phải trả; dự phòng phải trả; quỹ khen thưởng, phúc lợi; quỹ phát triển khoa học và công nghệ; quỹ bình ổn giá.
Các khoản nợ phải trả cần được theo dõi chi tiết theo từng đối tượng, thời hạn thanh toán, loại nguyên tệ và các tiêu chí quản lý khác theo yêu cầu của doanh nghiệp.
Là các khoản nợ mang tính chất thương mại phát sinh từ việc mua hàng hóa, dịch vụ hoặc tài sản của nhà cung cấp, người bán là các đơn vị độc lập với bên mua.
Khoản mục này bao gồm cả các khoản phải trả giữa công ty mẹ với công ty con, công ty liên doanh, công ty liên kết và các khoản phải trả phát sinh trong hoạt động nhập khẩu thông qua đơn vị nhận ủy thác.
Bao gồm các khoản cổ tức hoặc lợi nhuận mà doanh nghiệp có trách nhiệm chi trả cho chủ sở hữu như cổ đông, thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn và các đối tượng có quyền hưởng lợi nhuận khác.
Là các khoản phải trả phát sinh giữa trụ sở chính với các đơn vị trực thuộc hoặc giữa các đơn vị trực thuộc trong cùng doanh nghiệp.
Bao gồm các khoản phải trả không mang tính chất thương mại và không phát sinh từ hoạt động mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, cụ thể như:
Tại thời điểm kết thúc kỳ kế toán, doanh nghiệp phải căn cứ vào thời gian còn lại đến hạn thanh toán để xác định và phân loại các khoản nợ phải trả là ngắn hạn hoặc dài hạn theo đúng quy định hiện hành.
Khi có bằng chứng cho thấy một khoản tổn thất có khả năng chắc chắn phát sinh, doanh nghiệp phải ghi nhận ngay khoản phải trả tương ứng theo nguyên tắc thận trọng trong kế toán.
Doanh nghiệp phải theo dõi riêng các khoản nợ phải trả theo từng loại nguyên tệ.
Khi phát sinh giao dịch liên quan đến nợ phải trả bằng ngoại tệ, việc quy đổi sang đơn vị tiền tệ kế toán được thực hiện như sau:
Áp dụng tỷ giá giao dịch thực tế.
Áp dụng tỷ giá giao dịch thực tế hoặc tỷ giá ghi sổ.
Đối với các khoản nợ phải trả có giao dịch trả trước bằng ngoại tệ:
Vào thời điểm kết thúc kỳ kế toán, doanh nghiệp phải đánh giá lại số dư các khoản nợ phải trả là khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ theo tỷ giá mua bán chuyển khoản bình quân của ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp thường xuyên giao dịch.
Việc xác định tỷ giá giao dịch thực tế, tỷ giá ghi sổ, xử lý các giao dịch phát sinh và đánh giá lại các khoản nợ phải trả bằng ngoại tệ được thực hiện theo hướng dẫn tại Tài khoản 413 - Chênh lệch tỷ giá hối đoái.