google-site-verification=UUyX9etziW5VvF-yD44uBQdTGifLZ1mK4WwEJzKhUWk

Nguyên tắc kế toán các khoản doanh thu theo Thông tư 99

Tổng hợp 7 nguyên tắc kế toán các khoản doanh thu theo Thông tư 99/2025/TT-BTC

(Áp dụng từ ngày 01/01/2026, thay thế Thông tư 200)

1. Doanh thu là lợi ích kinh tế làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp, ngoại trừ các khoản góp thêm từ cổ đông. Doanh thu được ghi nhận khi giao dịch phát sinh, doanh nghiệp chắc chắn thu được lợi ích kinh tế và giá trị doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của khoản có quyền nhận, không phụ thuộc vào việc đã thu tiền hay chưa thu tiền.

2. Doanh thu và các khoản chi phí liên quan đến việc tạo ra doanh thu phải được ghi nhận đồng thời theo nguyên tắc phù hợp. Các chi phí liên quan có thể bao gồm chi phí phát sinh trong kỳ, chi phí từ các kỳ trước hoặc các khoản chi phí phải trả nhưng liên quan đến doanh thu của kỳ hiện tại.

Trong trường hợp nguyên tắc phù hợp có sự mâu thuẫn với nguyên tắc thận trọng, doanh nghiệp phải căn cứ vào bản chất giao dịch, các Chuẩn mực kế toán Việt Nam và quy định của Thông tư này để phản ánh nghiệp vụ một cách trung thực và hợp lý.

  • Một hợp đồng kinh tế có thể bao gồm nhiều giao dịch khác nhau. Doanh nghiệp phải xác định rõ từng giao dịch để áp dụng điều kiện ghi nhận doanh thu phù hợp theo quy định.
  • Doanh thu phải được ghi nhận theo bản chất của giao dịch thay vì chỉ dựa trên hình thức hoặc tên gọi. Doanh thu cũng cần được phân bổ theo từng nghĩa vụ cung cấp hàng hóa, dịch vụ.

Ví dụ, khách hàng được tặng thêm sản phẩm khi mua hàng hóa hoặc dịch vụ của doanh nghiệp (mua 2 tặng 1). Về bản chất, đây là giao dịch giảm giá bán chứ không phải cho tặng miễn phí, bởi khách hàng chỉ được nhận sản phẩm tặng khi thực hiện việc mua hàng. Trong trường hợp này, doanh nghiệp phải ghi nhận doanh thu tương ứng với giá trị hợp lý của sản phẩm, dịch vụ được cung cấp và phân bổ giá giao dịch cho cả sản phẩm bán và sản phẩm tặng dựa trên giá bán độc lập của từng loại. Giá trị sản phẩm tặng được phản ánh vào giá vốn hàng bán.

Tuy nhiên, nguyên tắc này có thể không áp dụng đối với trường hợp doanh nghiệp tặng hàng hóa, dịch vụ miễn phí mà giá bán sản phẩm, dịch vụ chính không thay đổi dù khách hàng có nhận hay không nhận hàng hóa, dịch vụ tặng kèm. Khi đó, giá trị hàng hóa, dịch vụ tặng kèm được ghi nhận vào chi phí bán hàng tương tự như chương trình khuyến mại không kèm điều kiện.

  • Đối với các giao dịch làm phát sinh nghĩa vụ của doanh nghiệp ở hiện tại và trong tương lai, doanh thu phải được phân bổ theo giá trị hợp lý của từng nghĩa vụ thực hiện và chỉ được ghi nhận khi nghĩa vụ đó đã hoàn thành.

3. Doanh thu, lãi hoặc lỗ chỉ được xem là chưa thực hiện khi doanh nghiệp vẫn còn nghĩa vụ phải thực hiện trong tương lai (ngoại trừ nghĩa vụ bảo hành thông thường) hoặc chưa chắc chắn thu được lợi ích kinh tế.

Việc xác định lãi, lỗ đã thực hiện hay chưa thực hiện không phụ thuộc vào việc dòng tiền đã phát sinh hay chưa.

Các khoản lãi, lỗ phát sinh từ việc đánh giá lại tài sản hoặc nợ phải trả không được xem là chưa thực hiện, bởi tại thời điểm đánh giá lại doanh nghiệp đã có quyền đối với tài sản hoặc đã phát sinh nghĩa vụ hiện tại đối với khoản nợ phải trả. Ví dụ như lãi, lỗ phát sinh từ đánh giá lại tài sản mang đi góp vốn đầu tư hoặc chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ đều được xem là đã thực hiện.

4. Doanh thu không bao gồm các khoản thu hộ bên thứ ba, chẳng hạn:

  • Các khoản thuế gián thu phải nộp như thuế GTGT, thuế xuất khẩu,...
  • Các khoản phụ thu, phí thu thêm ngoài giá bán mà doanh nghiệp không được hưởng.
  • Khoản tiền bên bán hàng đại lý thu hộ cho chủ hàng.
  • Các khoản tiền doanh nghiệp thu từ khách hàng nhưng khách hàng sử dụng để thanh toán cho bên thứ ba theo quy định pháp luật như tiền ủng hộ nhân đạo hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ của đơn vị khác.

Trường hợp tại thời điểm ghi nhận doanh thu chưa thể tách riêng ngay số thuế gián thu phải nộp, doanh nghiệp có thể tạm ghi nhận doanh thu bao gồm cả khoản thuế này trên sổ kế toán. Định kỳ, doanh nghiệp phải thực hiện ghi giảm doanh thu tương ứng với số thuế gián thu phải nộp.

Khi lập Báo cáo tài chính, doanh nghiệp bắt buộc phải loại trừ toàn bộ số thuế gián thu phải nộp khỏi chỉ tiêu doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.

5. Thời điểm và căn cứ ghi nhận doanh thu kế toán có thể khác với thời điểm và căn cứ xác định doanh thu tính thuế tùy theo từng trường hợp cụ thể.

Doanh thu tính thuế chỉ được sử dụng để xác định nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật. Trong khi đó, doanh thu ghi nhận trên sổ kế toán để lập Báo cáo tài chính phải tuân thủ các nguyên tắc kế toán và trong nhiều trường hợp không nhất thiết phải trùng với giá trị ghi trên hóa đơn bán hàng.

6. Khi phát sinh việc luân chuyển hàng hóa, sản phẩm hoặc dịch vụ giữa các đơn vị trực thuộc trong cùng doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể quyết định việc ghi nhận doanh thu tại các đơn vị trực thuộc căn cứ vào đặc điểm hoạt động và cơ chế quản lý của mình, không phụ thuộc vào loại chứng từ sử dụng là hóa đơn hay chứng từ nội bộ.

Tuy nhiên, khi lập Báo cáo tài chính tổng hợp, toàn bộ doanh thu phát sinh giữa các đơn vị trực thuộc phải được loại trừ.

7. Doanh thu chỉ được ghi nhận đối với kỳ báo cáo hiện hành. Khi kết thúc kỳ kế toán, doanh nghiệp phải thực hiện kết chuyển toàn bộ doanh thu phát sinh trong kỳ để xác định kết quả kinh doanh.

Các tài khoản phản ánh doanh thu không có số dư cuối kỳ.

Liên hệ Kế toán Thuế Đà Nẵng để được tư vấn chi tiết 0983 542 571

Đăng ký nhận khuyến mãi Kế Toán Thuế Đà Nẵng

zalo