google-site-verification=UUyX9etziW5VvF-yD44uBQdTGifLZ1mK4WwEJzKhUWk
Hướng dẫn cách xác định thuế thu nhập cá nhân đối với người nước ngoài; cách tính lương NET; các khoản giảm trừ gia cảnh; thuế suất áp dụng và các nội dung liên quan theo quy định hiện hành.
Căn cứ theo Thông tư 111/2013/TT-BTC, Thông tư 119/2014/TT-BTC và Thông tư 92/2015/TT-BTC, việc xác định nghĩa vụ thuế TNCN đối với người nước ngoài được thực hiện như sau:
Trước tiên, cần xác định người nước ngoài thuộc diện cá nhân cư trú hay cá nhân không cư trú.
Đây là bước rất quan trọng vì phương pháp tính thuế TNCN sẽ phụ thuộc vào tình trạng cư trú của cá nhân.
Nếu người nước ngoài được xác định là cá nhân cư trú thì việc tính thuế TNCN được thực hiện tương tự như đối với công dân Việt Nam.
Phạm vi xác định thu nhập chịu thuế
Thu nhập chịu thuế của cá nhân cư trú bao gồm toàn bộ thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam, không phân biệt nơi chi trả thu nhập.
Đối với cá nhân là công dân của quốc gia hoặc vùng lãnh thổ đã ký Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với Việt Nam và được xác định là cá nhân cư trú tại Việt Nam thì nghĩa vụ thuế TNCN được tính từ tháng đầu tiên có mặt tại Việt Nam cho đến tháng kết thúc hợp đồng lao động và rời khỏi Việt Nam (được tính đủ theo tháng).
Trường hợp này không phải thực hiện thủ tục xác nhận lãnh sự để được áp dụng quy định tránh đánh thuế hai lần theo Hiệp định giữa Việt Nam và quốc gia liên quan.
Đối với cá nhân không cư trú, việc xác định thuế TNCN được thực hiện theo quy định riêng.
Phạm vi xác định thu nhập chịu thuế
Thu nhập chịu thuế là các khoản thu nhập phát sinh tại Việt Nam, không phân biệt nơi chi trả hay nơi nhận thu nhập.
——————————————————
Thuế TNCN đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân không cư trú được xác định theo công thức:
Trong đó:
Thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công
Thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công của cá nhân không cư trú được xác định tương tự cách xác định thu nhập chịu thuế đối với cá nhân cư trú theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 8 Thông tư 111/2013/TT-BTC.
Cụ thể:
Khoản 2 Điều 8 Thông tư 111/2013/TT-BTC quy định:
a) Thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công
Thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công được xác định bằng tổng các khoản tiền lương, tiền công, tiền thù lao và các khoản thu nhập khác có tính chất tiền lương, tiền công mà người nộp thuế nhận được trong kỳ tính thuế theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC.
b) Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế
Việc xác định thu nhập chịu thuế TNCN từ tiền lương, tiền công tại Việt Nam đối với cá nhân không cư trú làm việc đồng thời ở Việt Nam và nước ngoài nhưng không tách riêng được phần thu nhập phát sinh tại Việt Nam được thực hiện như sau:
a) Trường hợp người nước ngoài không hiện diện tại Việt Nam
Trong đó:
Tổng số ngày làm việc trong năm được xác định theo chế độ lao động quy định tại Bộ luật Lao động của Việt Nam.
b) Trường hợp người nước ngoài hiện diện tại Việt Nam
Thu nhập chịu thuế khác (trước thuế) phát sinh tại Việt Nam nêu tại điểm a và điểm b là các khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền mà người lao động được hưởng ngoài tiền lương, tiền công do người sử dụng lao động chi trả hoặc thanh toán thay cho người lao động.
Đối với thu nhập của cá nhân không cư trú:
Tổ chức hoặc cá nhân chi trả các khoản thu nhập thuộc diện chịu thuế cho cá nhân không cư trú có trách nhiệm khấu trừ thuế TNCN trước khi thực hiện chi trả thu nhập.
Số thuế phải khấu trừ được xác định theo hướng dẫn nêu trên.
(Căn cứ Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC)
Căn cứ Điều 19 Thông tư 80/2021/TT-BTC:
Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công thuộc diện trực tiếp khai thuế với cơ quan thuế bao gồm:
Như vậy:
Căn cứ Điều 8 Nghị định 126/2020/NĐ-CP:
Thuế TNCN đối với tổ chức, cá nhân trả thu nhập thuộc diện khấu trừ thuế theo quy định của pháp luật về thuế TNCN, trong trường hợp tổ chức, cá nhân trả thu nhập thuộc diện khai thuế GTGT theo quý và lựa chọn khai thuế TNCN theo quý; cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công trực tiếp khai thuế với cơ quan thuế và lựa chọn khai thuế theo quý.
Thuế TNCN do cá nhân trực tiếp khai hoặc tổ chức, cá nhân khai thay, nộp thay đối với các khoản thu nhập từ:
(Căn cứ Điều 44 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14)
Theo Công văn số 223/TCT-TNCN ngày 19/01/2016 của Tổng cục Thuế:
Về chính sách thuế TNCN đối với khoản tiền thưởng được chi trả cho người lao động nước ngoài sau khi đã hoàn thành quyết toán thuế TNCN và rời khỏi Việt Nam; đồng thời hướng dẫn đối với khoản hỗ trợ chi phí vận chuyển hành lý từ Việt Nam về nước của người lao động nước ngoài sau khi đã xuất cảnh.
Tổng cục Thuế thống nhất với nội dung hướng dẫn của Cục Thuế thành phố Hà Nội tại Công văn số 81778/CT-HTr ngày 22/12/2015.
Theo Công văn số 81778/CT-HTr ngày 22/12/2015 của Cục Thuế Hà Nội:
Trường hợp đơn vị chi trả thu nhập phát sinh việc thanh toán các khoản thu nhập thuộc diện chịu thuế TNCN cho lao động nước ngoài sau khi người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động, đã về nước và đã thực hiện quyết toán thuế trước khi xuất cảnh thì tại thời điểm nhận khoản thu nhập này, cá nhân được xác định là đối tượng không cư trú tại Việt Nam.
=> Đơn vị chi trả thu nhập có trách nhiệm khấu trừ thuế TNCN theo mức 20% trên tổng thu nhập trước khi thanh toán cho cá nhân và nộp vào ngân sách nhà nước.
Theo Công văn số 1657/TCT-TNCN ngày 20/04/2016 của Tổng cục Thuế:
Trường hợp ông Raj Kumar là người nước ngoài đến Việt Nam từ ngày 16/05/2012.
=> Trong năm 2015, ông Raj Kumar được xác định là cá nhân không cư trú tại Việt Nam.
=> Thu nhập chịu thuế trong năm 2015 được kê khai và nộp thuế theo thuế suất 20%.
=> Không phải thực hiện quyết toán thuế TNCN khi xuất cảnh khỏi Việt Nam.
Người nước ngoài phải thực hiện quyết toán thuế TNCN trước khi xuất cảnh khỏi Việt Nam khi đáp ứng đồng thời các điều kiện sau:
Tuy nhiên, đối với năm đầu tiên đến Việt Nam làm việc thì kỳ quyết toán đầu tiên không được xác định theo năm dương lịch mà được tính đủ 365 ngày kể từ ngày nhập cảnh đầu tiên.
Từ năm thứ hai trở đi, việc quyết toán được thực hiện theo năm dương lịch.
Ví dụ:
Người lao động lần đầu nhập cảnh Việt Nam ngày 01/09/2016 để làm việc.
Trong đó, số thuế đã nộp trong giai đoạn từ 01/01/2017 đến 31/08/2017 được bù trừ vào số thuế phải nộp của kỳ quyết toán thứ hai.
Ví dụ thực tế:
Ông Hiroshi Tanaka (quốc tịch Nhật Bản) lần đầu đến Việt Nam làm việc vào ngày 28/05/2015.
=> Ông Hiroshi Tanaka được xác định là cá nhân cư trú tại Việt Nam.
Kỳ tính thuế được xác định như sau:
Trường hợp phần mềm hỗ trợ kê khai chưa đáp ứng việc lập hồ sơ quyết toán cho kỳ tính thuế từ 28/05/2015 đến 27/05/2016 thì cá nhân tự lập hồ sơ quyết toán và nộp trực tiếp cho cơ quan thuế.
Theo Công văn số 6633/CT-TTHT ngày 13/07/2016 của Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh:
Trường hợp Tổng Giám đốc là người nước ngoài được điều động nội bộ từ công ty mẹ ở nước ngoài sang Việt Nam làm việc trong thời hạn 01 năm và được xác định là cá nhân cư trú:
Khi kết thúc năm, cá nhân có trách nhiệm tổng hợp toàn bộ thu nhập toàn cầu để quyết toán thuế với cơ quan thuế.
Doanh nghiệp chỉ thực hiện việc xác nhận thu nhập đã chi trả và số thuế đã khấu trừ cho cá nhân.
Nếu doanh nghiệp ở nước ngoài đóng các khoản bảo hiểm bắt buộc cho cá nhân theo quy định của quốc gia nơi cá nhân mang quốc tịch (tương tự BHXH, BHYT, BHTN) và có chứng từ chứng minh thì khoản này không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN.
Đối với các sản phẩm bảo hiểm không có tích lũy phí bảo hiểm được mua ở nước ngoài thì phần phí bảo hiểm này cũng không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN.
Lương hưu được chi trả theo chính sách hưu trí của quốc gia sở tại được miễn thuế TNCN.
Các khoản chi phí phát sinh phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh như:
=> Không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của cá nhân.
Đối với chi phí đào tạo trong nước hoặc nước ngoài nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với công việc của người lao động thì cũng không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN.
Khoản tiền vé máy bay về thăm gia đình cho người lao động nước ngoài được doanh nghiệp thanh toán mỗi năm 01 lần theo hợp đồng lao động thì không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN.
Trường hợp được thanh toán từ lần thứ hai trở đi trong cùng một năm thì phần chi trả này phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN.
Khoản tiền thuê nhà do doanh nghiệp thanh toán hộ cho người lao động nước ngoài trong thời gian làm việc tại Việt Nam được tính vào thu nhập chịu thuế theo số thực tế chi trả.
Tuy nhiên, mức tính vào thu nhập chịu thuế không vượt quá 15% tổng thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công của cá nhân (chưa bao gồm tiền thuê nhà).
Căn cứ quy định tại Điều 26 Thông tư 111/2013/TT-BTC, hướng dẫn như sau:
Trường hợp cá nhân cư trú có thu nhập phát sinh tại nước ngoài và đã thực hiện nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân theo quy định của quốc gia đó thì được khấu trừ phần thuế đã nộp ở nước ngoài khi xác định số thuế phải nộp tại Việt Nam.
Tuy nhiên, số thuế được khấu trừ không được vượt quá số thuế phải nộp theo quy định của Việt Nam đối với phần thu nhập phát sinh ở nước ngoài. Tỷ lệ phân bổ được xác định dựa trên tỷ lệ giữa thu nhập phát sinh tại nước ngoài và tổng thu nhập chịu thuế.
Đối với cá nhân có thu nhập từ kinh doanh hoặc từ tiền lương, tiền công mà số ngày có mặt tại Việt Nam trong năm dương lịch đầu tiên dưới 183 ngày nhưng tính trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam đạt từ 183 ngày trở lên thì thực hiện như sau:
Số thuế còn phải nộp của năm tính thuế thứ hai được xác định theo công thức:
Số thuế còn phải nộp năm tính thuế thứ hai
= Số thuế phải nộp của năm tính thuế thứ hai − Số thuế tính trùng được trừ
Trong đó:
Số thuế phải nộp của năm tính thuế thứ hai
= Thu nhập tính thuế của năm tính thuế thứ hai × Thuế suất thuế TNCN theo Biểu thuế lũy tiến từng phần
Số thuế tính trùng được trừ
= Số thuế phải nộp của năm tính thuế thứ nhất × Số tháng tính trùng / 12
Ông Trần Minh Quân là người nước ngoài lần đầu đến Việt Nam làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ ngày 01/06/2024 đến ngày 31/05/2026.
Thông tin cụ thể như sau:
Nếu xét riêng năm 2024 thì ông Quân là cá nhân không cư trú.
Tuy nhiên, tính trong 12 tháng liên tục kể từ ngày 01/06/2024 đến hết ngày 31/05/2025, tổng số ngày có mặt tại Việt Nam là:
80 ngày + 110 ngày = 190 ngày
Do đó, ông Quân được xác định là cá nhân cư trú tại Việt Nam.
Tổng thu nhập chịu thuế:
= 144 triệu đồng + 120 triệu đồng
= 264 triệu đồng
Giảm trừ gia cảnh:
= 11 triệu đồng × 12 tháng
= 132 triệu đồng
Thu nhập tính thuế:
= 264 triệu đồng − 132 triệu đồng
= 132 triệu đồng
Thuế TNCN phải nộp:
= (60 triệu đồng × 5%)
= 10,8 triệu đồng
Trong năm 2025, ông Quân có mặt tại Việt Nam:
110 ngày + 105 ngày = 215 ngày
Do đó, ông Quân tiếp tục được xác định là cá nhân cư trú.
Thu nhập chịu thuế năm 2025:
= 120 triệu đồng + 132 triệu đồng
= 252 triệu đồng
Giảm trừ gia cảnh:
= 11 triệu đồng × 12 tháng
= 132 triệu đồng
Thu nhập tính thuế:
= 252 triệu đồng − 132 triệu đồng
= 120 triệu đồng
Thuế TNCN phải nộp năm 2025:
= (60 triệu đồng × 5%)
= 9 triệu đồng
Năm 2025 có 05 tháng trùng với kỳ quyết toán của năm tính thuế thứ nhất (từ tháng 01/2025 đến tháng 05/2025).
Số thuế tính trùng được trừ:
= (10,8 triệu đồng / 12 tháng) × 5 tháng
= 4,5 triệu đồng
Thuế TNCN còn phải nộp năm 2025:
= 9 triệu đồng − 4,5 triệu đồng
= 4,5 triệu đồng
Nếu doanh nghiệp trả lương theo hình thức lương NET (lương thực nhận, chưa bao gồm thuế TNCN) và doanh nghiệp là đơn vị chịu thay khoản thuế này thì phải thực hiện quy đổi thu nhập trước khi tính thuế TNCN.
Nguyên tắc ủy quyền quyết toán thuế TNCN được áp dụng thống nhất cho cả lao động Việt Nam và lao động nước ngoài.
Cụ thể:
(Công văn số 3438/TCT-TNCN ngày 02/08/2017)